Chủ Nhật, 12 tháng 5, 2019

CHỨNG NHẬN CÔNG BÔ HỢP QUY KÍNH PHỦ- 0903 527 089 (Ms. Hà)

  1. KÍNH PHỦ BỨC XẠ THẤP
    Kính Low-E (hay kính bức xạ thấp) được chế tạo bởi cách mạ nhiều lớp kim loại, vật liệu hỗn hợp lên bề mặt kính. Lớp mạ kim loại này có khả năng phản xạ cao đối với tia hồng ngoại, phát xạ nhiệt chậm, làm giảm sự phát tán, hấp thụ nhiệt lượng chậm và làm chậm quá trình truyền tải nhiệt nhưng vẫn đảm bảo độ sáng cho căn phòng. Điều này giúp cho căn phòng ấm áp vào mùa đông và mát mẻ vào mùa hè, tiết kiệm tối đa chi phí cho công viêc giữ nhiệt trong phòng mà vẫn giữ được độ sáng và nét thẩm mỹ tối đa.
  • Kính phủ cứng Low-E

  • Kính phủ cứng Low-E với tính năng kiểm soát nhiệt

  • Kính phủ mềm Low-E

  • Kính phủ mềm Low-E với tính năng kiểm soát nhiệt

Kính phủ cứng Low-E: được phủ lên bề mặt kính một loại hợp chất đặc biệt chọn lọc, có tính năng kiểm soát nhiệt tốt, với công nghệ kỹ thuật nhiệt luyện (phủ cứng). Ngoài ra còn được phủ lên bề mặt lỏng kính 1 hợp chất kiểm soát nhiệt và thành phẩm kính Low-E phủ cứng là một lớp nguyên tấm.
Kính phủ mềm Low-E: được phủ lên mặt kính một loại hợp chất đặc biệt chọn lọc, có tính năng kiểm soát nhiệt tốt, với công nghệ kỹ thuật điện giải trong chân không (phủ mềm). Được phủ lên bề mặt kính hợp chất kiểm soát nhiệt, thành phẩm kính Low-E phủ mềm là hai hay nhiều lớp..
Tính năng cách nhiệt: Làm giảm Tỷ lệ nhiệt xuyên qua tấm kính (W/m2.K). Tỷ lệ nhiệt xuyên qua chính là lượng nhiệt di chuyển qua kính từ vùng có nhiệt độ cao sang vùng có nhiệt độ thấp, tỷ lệ này càng nhỏ thì tính năng cách nhiệt càng cao.
Tính năng chặn nhiệt: Làm giảm Tỷ lệ thẩm thấu nhiệt qua kính vào trong phòng (%). Tỷ lệ này càng nhỏ thì tính năng ngăn chặn nhiệt càng cao.

Chứng nhận hợp quy kính xây dựng ngày càng quan trọng và cần thiết, do kính ngày càng được sử dụng nhiều trong các công trình cũng là nhóm sản phẩm gây mất an toàn cao.
Theo thông tư số 10/2017/BXD thì kính phủ bức xạ thấp thuộc nhóm “Kính xây dựng” phải chứng nhận hợp quy trước khi đưa ra thị trường theo quy định của QCVN 16/2017/BXD.
Yêu cầu không thể thiếu: Sau khi chứng nhận hợp quy thì đơn vị phải công bố bản hợp quy tại Sở xây dựng nơi Doanh nghiệp đăng ký kinh doanh
  • Bảng công bố hợp quy theo mẫu của TT 28/2012/BKHCN

  • Bảng mô tả sản phẩm

  • Giấy chứng nhận hợp quy và kết quả thử nghiệm đi kèm

  • Giấy phép đăng ký kinh doanh

Để được tư vấn và hỗ trợ chứng nhận, vui lòng liên hệ:
VIỆN NĂNG SUẤT CHẤT LƯỢNG DEMING
Hotline: 0903 527 089 – Ms. Thu Hà

Thứ Ba, 23 tháng 4, 2019

HACCP LÀ GÌ


HACCP là gì?

Tiêu chuẩn HACCP (Hazard Analysis and Critical Control Points) là hệ thống quản lý mang tính phòng ngừa nhằm đảm bảo an toàn thực phẩm thông qua nhận biết mối nguy, thực hiện các biện pháp phòng ngừa và kiểm soát tại các điểm tới hạn. Các nguyên lý của HACCP được thống nhất trên toàn thế giới và có thể áp dụng trong tất cả các ngành sản xuất thực phẩm và đồ uống, trong việc phân phối và bán sản phẩm. Hệ thống này có thể được áp dụng cho các sản phẩm đang tiêu thụ trên thị trường cũng như cho các sản phẩm mới.

Kết quả hình ảnh cho chứng nhận haccp là gì
HACCP ra đời từ thập niên 60 cùng với chương trình vũ trụ của cơ quan NASA Mỹ nhằm ngăn ngừa ngộ độc thực phẩm và đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm cho các phi hành gia khi phóng tàu vũ trụ Columbia lên không trung. Năm 1971, HACCP bắt đầu được áp dụng trong ngành thực phẩm tại Mỹ nhằm đảm bảo chất lượng, an toàn thực phẩm thông qua kiểm soát các mối nguy, sau đó HACCP nhanh chóng chở thành một hệ thống quản lý chất lượng thực phẩm được áp dụng rộng rãi trên toàn thế giới.

Việc áp dụng HACCP không phải chỉ đơn thuần phân tích mối nguy và kiểm soát các điểm tới hạn mà cần phải đảm bảo các điều kiện tiên quyết và chương trình tiên quyết như Quy phạm Thực hành sản xuất tốt tiêu chuẩn GMP (Good Manufacturing Practice), Quy phạm Thực hành vệ sinh tốt tiêu chuẩn SSOP (Sanitation Standard Operating Procedures) cùng các chương trình hỗ trợ khác để làm nền tảng cho việc đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm.

Đối tượng áp dụng HACCP

Doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh thủy sản, thực phẩm, thức ăn chăn nuôi…;
Các cơ sở sản xuất chế biến thực phẩm, khu chế xuất, thức ăn công nghiệp;
Cơ sở dịch vụ ăn uống, nhà hàng, khách sạn và các tổ chức hoạt đông liên quan đến thực phẩm.

Lợi ích

Lợi ích với doanh nghiệp: nâng cao uy tín chất lượng phẩm của mình, tăng tính cạnh tranh, khả năng chiếm lĩnh và mở rộng thị trường, đặc biệt đối với thực phẩm xuất khẩu. Được phép in trên nhãn dấu chứng nhận phù hợp hệ thống HACCP, tạo lòng tin với người tiêu dùng và bạn hàng. Là cơ sở đảm bảo điều kiện thuận lợi cho việc đàm phán, ký kết hợp đồng thương mại trong nước cũng như xuất khẩu và là cơ sở của chính sách ưu tiên đầu tư, đào tạo của Nhà nước cũng như các đối tác nước ngoài;
Lợi ích với ngành công nghiệp: tăng khả năng cạnh tranh và tiếp thị; giảm chi phí do giảm sản phẩm hỏng và phải thu hồi; cải tiến quá trình sản xuất và điều kiện môi trường; cải tiến năng lực quản lý đảm bảo an toàn thực phẩm; tăng cơ hội kinh doanh và xuất, nhập khẩu thực phẩm;
Lợi ích với nhà nước: cải thiện sức khỏe cộng đồng, nâng cao hiệu quả và kiểm soát thực phẩm; giảm chi phí cho sức khỏe cộng đồng; tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển thương mại; tạo lòng tin của người dân vào việc cung cấp thực phẩm;
Lợi ích đối với người tiêu dùng: giảm nguy cơ các bệnh truyền qua thực phẩm, nâng cao nhận thức về vệ sinh an toàn thực phẩm; tăng sự tin cậy vào việc cung cấp thực phẩm; cải thiện cuộc sống trong lĩnh vực sức khỏe và kinh tế – xã hội.

Trung tâm giám định và chứng nhận hợp chuẩn hợp quy VietCert
Ms. Nhứt 0905 927 699
Email: vietcert.kinhdoanh83@gmail.com

Thứ Tư, 17 tháng 4, 2019

THỦ THỰC CHỨNG NHẬN HỢP QUY GẠCH GỐM ỐP LÁT- 0903 527 089 (Ms. THU HÀ)

Gạch gốm ốp lát có nhiều loại như: Gạch gốm ốp lát ép bán khô, gạch gốm ốp lát đùn dẻo, gạch gốm khác, tất cả đều làm từ nguyên liệu gốm và dùng để lát nền hay ốp tường
Hôm nay chúng ta tìm hiểu về gạch gốm ốp lát đùn dẻo?
- Đùn dẻo là tên gọi của phương pháp tạo hình.
- Đối với gạch gốm ốp lát đùn dẻo là loại gạch được tạo hình theo phương pháp dẻo qua máy đùn và được cắt theo kích thước nhất định.
- Phân loại theo công nghệ sản xuất: gạch tráng men và gạch không tráng men
Gạch tráng men là loại gạch có bề mặt được bao phủ một lớp men màu, khiến cho viên gạch có sự độc đáo ở cả góc độ thẩm mỹ (màu sắc, độ sáng, kết cấu…) và góc độ công nghệ (độ cứng, độ hút nước…). Tất cả những đặc tính đó phụ thuộc vào từng loại men.
Gạch không tráng men là loại gạch đồng chất trên cả viên gạch, và không cần tráng một lớp men trên bề mặt gạch. Màu sắc và hoa văn của gạch không tráng men sẽ được pha trộn màu hoặc chất liệu khác với xương của gạch sau đó được nung với nhiệt độ cao.
Phân loại theo độ hút nước
Xương gạch có các lỗ vi thể liên kết với nhau và chỉ được nhìn thấy thông qua kính hiển vi chuyên dụng. Những lỗ vi thể này sẽ quyết định độ hút nước của gạch dưới các điều kiện khác nhau.
Ngoài ra còn có nhiều cách phân loại khác như màu sắc của xương (trắng, đỏ) theo hình dáng kích thước, và gạch ốp ngoại thất hay nội thất…


Gạch gốm ốp lát nay được sử dụng khá rộng rãi trong các công trình, nội thất.
Đối với sản phẩm gạch gốm ốp lát đùn dẻo là một trong những sản phẩm cần làm chứng nhận hợp quy theo quy chuẩn QCVN 16:2017/BXD trước khi đưa ra thị trường.


Tên sản phẩm
Đặc tính kỹ thuật
Mức yêu cầu
Phương pháp thử
Quy cách mẫu
Gạch gốm ốp lát đùn dẻo
1. Độ hút nước
Bảng 3 của TCVN 7483:2005
TCVN 6415-3:2016
5 viên gạch nguyên



2. Độ bền uốn
TCVN 6415-4:2016
3. Độ chịu mài mòn:
- Độ chịu mài mòn sâu (đối với gạch không phủ men)
TCVN 6415-6:2016
- Độ chịu mài mòn bề mặt men (đối với gạch phủ men)
TCVN 6415-7:2016
4. Hệ số giãn nở nhiệt dài
TCVN 6415-8:2016
5. Hệ số giãn nở ẩm
TCVN 6415-10:2016


Để được tư vấn và hỗ trợ chứng nhận hợp quy, vui lòng liên hệ:
VIỆN NĂNG SUẤT CHẤT LƯỢNG DEMING
Hotline: 0903 527 089 – Ms. Thu Hà


Thứ Ba, 22 tháng 1, 2019

Nhiều doanh nghiệp thép không có tăng trưởng

Tình hình thị trường khó khăn nên khá nhiều doanh nghiệp thép dù hoàn thành kế hoạch năm nhưng không có tăng trưởng.
Trong những năm gần đây, Tổng Công ty Thép Việt Nam (VnSteel) không có thêm dự án mới với quy mô lớn đi vào hoạt động, trong khi đó một số dự án hết hạn, không hiệu quả phải dừng hoạt động nên không có khả năng tăng trưởng về sản lượng, thị phần.
Theo ông Nguyễn Đình Phúc, Tổng Giám đốc VnSteel, trong năm 2018, hầu hết các Công ty trong hệ thống đã bảo toàn được vốn, đặc biệt có một số công ty đã khắc phục được hoàn toàn như Kim khí Hà Nội, hoặc một phần lỗ lũy kế từ các năm trước như Tấm lá Phú Mỹ, Tấm lá Thống Nhất, thép Việt Trung... Tuy nhiên, còn nhiều đơn vị chưa thoát khỏi lỗ lũy kế hoặc có nợ khó đòi.
Lý giải về vấn đề này, ông Nguyễn Đình Phúc cho biết, do tình hình thị trường khó khăn chung nên khá nhiều đơn vị kinh doanh kém hiệu quả, ngoài ra, các đơn vị do quản trị và nhận định thị trường chưa tốt nên hiệu quả kinh doanh thấp và giảm sút. 

Một số dự án thép ngừng hoạt động hoặc hoạt động không hiệu quả.
Bên cạnh đó, ông Phúc cũng thừa nhận, năng lực sản xuất của nhiều đơn vị đã chạm giới hạn; nhiều đơn vị năng lực sản xuất còn hạn chế, công nghệ cũ, công suất thấp. Do vậy, các đơn vị này gặp nhiều bất lợi khi đối mặt với các nhà máy mới gia nhập thị trường hay gia tăng công suất với công nghệ mới hiện đại...
Trong năm 2019, VnSteel đặt mục tiêu tiếp tục cái cơ cấu nhằm tập trung vốn và nguồn lực cho sản xuất kinh doanh chính và có hiệu quả cao. Doanh thu hợp nhất ước đạt 21.000 tỷ đồng, lợi nhuận trước thuế đạt 150 tỷ đồng. VnSteel sẽ rà soát điều chỉnh chiến lược phát triển của doanh nghiệp, thực hiện hỗ trợ và phối hợp trong hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp cho mục tiêu chung. 
Đồng thời, ông Nguyễn Đình Phúc cũng kiến nghị, Chính phủ, và các bộ, ngành tập trung giải quyết các vấn đề để Tổng Công ty hoàn thành quyết toán cổ phần hóa Công ty mẹ; tạo điều kiện để Tổng Công ty phối hợp với Công ty thép Việt Trung và TISCO sớm hoàn thành giải quyết các tồn tại, vướng mắc của Dự án giai đoạn 2 – Gang thép Thái Nguyên và Dự án Nhà máy gang thép Lào Cai...
Trước đó, báo cáo tổng kết công tác năm 2018 và phương hướng, nhiệm vụ năm 2019 của VnSteel cho thấy, tổng lợi nhuận sau thuế của 38 doanh nghiệp có vốn đầu tư của Tổng Công ty chỉ đạt hơn 1.212 tỷ đồng, bằng 79% so với năm 2017.
Trong đó, chỉ 14 Công ty hoàn thành kế hoạch, có mức tăng trưởng; còn lại rất nhiều đơn vị không hoàn thành kế hoạch hoặc hoàn thành nhưng không có tăng trưởng như công ty Thép Nhà Bè, Tấm Lá Phú Mỹ, Vnsteel Thăng Long, Lưới thép Bình Tây... Đặc biệt, năm 2018 vẫn còn 1 Công ty con là Thép tấm miền Nam và 8 Công ty liên kết bị thua lỗ.
Đà Nẵng: 28 An xuân, Thanh Khê, Đà Nẵng
Hà Nội: 114 Trung Kính, Cầu Giấy, Hà Nội
Hồ Chí Minh: 102 Nguyễn Xí, Bình Thạnh, Hồ Chí Minh
Đăk Lăk : 12 Trần Nhật Duật, thành phố Buôn Mê Thuột
Cần Thơ: Khu Chung cư Hưng Phú 1, Đường A1, Cái Răng, Cần Thơ
Hải Phòng: Tòa nhà Thành Đạt, Thành phố Hải Phòng
Mr. Huyền: 0903 516 929 - 0961997338
Mail: vietcert.kinhdoanh60@gmail.com
-------
B.H.

Thứ Sáu, 18 tháng 1, 2019

Cái nhìn mới về xi măng Porland – Đá vôi 

Có thể nói: nước ta đã đi tiên phong trong việc sử dụng các chất phụ gia (poozolana) ở tỷ lệ cao. Một trong những phụ gia đó là đá vôi, một thứ phụ gia sẵn nhất, gần nhất và rẻ nhất. Khi pha vào xi măng, đá vôi mang lại lợi ích đáng kể về kinh tế. Cũng như những phụ gia khác, khi pha vào xi măng, đá vôi có những ảnh hưởng lên cơ, lý và hóa tính của xi măng thành phẩm. Do đó cũng có những ảnh hưởng nào đó lên quá trình sử dụng nó cho những người dùng cuối.  
4. Ảnh hưởng đến bê tông đã đóng rắn
Ảnh hưởng tới cường độ
Chất lượng và số lượng đá vôi được sử dụng đóng vai trò chính trong cường độ của bê tông được sản xuất với xi măng XPV.
Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng hàm lượng đá vôi lên đến 15% thực sự có thể làm tăng cường độ tuổi sớm do kết quả của việc cải thiện việc đóng rắn hạt, làm tăng tỷ lệ hydrat hóa xi măng và sản xuất canxi carboaluminate.
Hoạt tính của đá vôi đã được tranh luận. Trong khi hầu hết các nhà nghiên cứu trước đây tin rằng đá vôi được sử dụng làm chất độn trơ, nghiên cứu cho thấy đá vôi có phản ứng ở mức độ hạn chế. Khi các hạt đá vôi trở nên mịn hơn, phản ứng này có nhiều khả năng hơn. Các nghiên cứu phát hiện ra rằng ở nồng độ thấp, đá vôi (calcite) phản ứng hoàn toàn để tạo thành các pha carboaluminate khác nhau.
Khi tăng lượng đá vôi trong xi măng để đạt được cường độ cao hơn, sẽ có một giới hạn. Sử dụng số lượng lớn đá vôi (15% đến 25%) có thể dẫn đến sự pha loãng của bột nhão, và điều đó có thể dẫn đến việc bắt đầu làm giảm cường độ.
Các thử nghiệm cho thấy xi măng đá vôi có sự hợp lực đặc biệt với tro bay loại C dẫn đến cường độ nén cao hơn.
Ảnh hưởng đến tính thấm
Nhiều phương pháp thử nghiệm đã được phát triển để đo lường sức đề kháng của bê tông đối với sự xuyên thấu của các chất lỏng như nước, hơi hoặc khí và các loại chất xâm thực đi kèm như clorua hoặc sunfat. Bất kể phương pháp thử nào được áp dụng, người ta thường cho rằng tính bền và tuổi thọ của bê tông được cải thiện với khả năng chống lại sự di chuyển của chất lỏng và các loại ion.
Tính thấm đã được chứng minh là bị suy giảm do sử dụng đá vôi, do giảm tính kết nối của các lỗ rỗng. Điều này là do các cơ chế vật lý như tăng mật độ hạt đóng rắn và mật độ bột nhào, và hiện tượng vị trí tạo mầm đã được thảo luận trên đây. Đó cũng là do các phản ứng hóa học nhẹ của đá vôi. Canxi carbonat cũng phản ứng với các hợp chất aluminate trong xi măng và VDB để tạo ra các tinh thể carboaluminate bền. Một tác dụng phụ khác bao gồm ổn định ettringite và tăng tổng khối lượng sản phẩm hydrat hóa, do đó làm giảm độ xốp và tăng cường độ.
Tương tác với VDP và phụ gia
Việc sử dụng XPV có thể làm tăng hiệu quả của các VDB như tro bay và xỉ. Như đã đề cập ở trên, xi măng đá vôi hoạt động đặc biệt tốt với tro bay loại C. Đá vôi trong XPV có thể chống lại các hiệu ứng làm chậm đông của các chất VDB.
Các nghiên cứu cho đến nay chưa tiết lộ bất kỳ ảnh hưởng đáng kể nào của XPV đến hiệu quả của các phụ gia. Nghiên cứu gần đây chỉ ra rằng, một lượng hỗn hợp khí cao hơn một chút là cần thiết trong các cối vữa được chế tạo bằng XPV so với các xi măng Portland, nhưng điều này có thể là do xi măng mịn hơn. Số lượng cũng nằm trong phạm vi bình thường được đề xuất bởi nhà sản xuất và không mở rộng cho hỗn hợp bê tông.
Các lợi ích thiết thực về môi trường
Phát thải carbon dioxide (CO2) của các nhà máy xi măng chủ yếu đến từ hai nguồn: nung đá vôi, một thành phần thô chính để sản xuất clinker; và tiêu thụ nhiên liệu hóa thạch để làm nóng nguyên liệu thô đến nhiệt độ cần thiết để tạo thành clinker.
Hiệu quả bền vững chính của việc sử dụng đá vôi làm thành phần trong xi măng hỗn hợp ở mức 5% đến 15% khối lượng là clinker phải được sản xuất ít hơn cho cùng một lượng xi măng, do đó tiêu thụ ít năng lượng hơn và phát thải ít CO2 và khí nhà kính khác hơn. Điều này có thể được nhìn thấy trong 

Hình 1. Phát thải CO2 của sản xuất xi măng Portland hay xi măng Portland-đá vôi 
từ 3 nhà máy xi măng Đức (theo Schmidt 1992).
Một lợi ích khác của XPV là nhu cầu nguyên liệu thấp hơn, làm giảm tiêu hao tài nguyên thiên nhiên. Để sản xuất một tấn xi măng portland, cần khoảng 1,3 đến 1,4 tấn nguyên liệu thô. XPV cần ít hơn 10% nguyên liệu thô.
5. Tốt cho bạn, tốt cho mọi người
Các nhà sản xuất bê tông đúc sẵn phải luôn luôn cảnh giác với bất kỳ quy trình và vật liệu nào có thể giảm giá thành sản phẩm của họ và cải thiện tính bền vững trong khi không ảnh hưởng tiêu cực đến tính năng. XPV có thể cung cấp một phương tiện cho mục đích đó.
Dữ liệu trong Bảng 1 cho thấy hàm lượng đá vôi của xi măng có thể tăng từ mức thường được sử dụng trong xi măng portland thông thường (khoảng 3,5%) lên 15% trong khi duy trì tính năng tương đương. Điều này có thể dẫn đến giảm tác động môi trường và, trong một số trường hợp, giảm chi phí.
Đạt được tính năng tương đương trong bê tông sử dụng XPV so với xi măng Portland thường là có thể, bởi vì đá vôi nghiền mịn có thể góp vào sự phát triển cấu trúc vi mô, đặc biệt là khi độ mịn và hóa học của xi măng thành phẩm được nhà sản xuất tối ưu hóa. Việc sử dụng XPV phải là sự tích hợp liền mạch trong qúa trình sản xuất bê tông đúc sẵn.
Trung tâm giám định và chứng nhận hợp chuẩn hợp quy Vietcert

Đà Nẵng: 28 An xuân, Thanh Khê, Đà Nẵng
Hà Nội: 114 Trung Kính, Cầu Giấy, Hà Nội
Hồ Chí Minh: 102 Nguyễn Xí, Bình Thạnh, Hồ Chí Minh
Đăk Lăk : 12 Trần Nhật Duật, thành phố Buôn Mê Thuột
Cần Thơ: Khu Chung cư Hưng Phú 1, Đường A1, Cái Răng, Cần Thơ
Hải Phòng: Tòa nhà Thành Đạt, Thành phố Hải Phòng
Mr. Huyền: 0903 516 929 - 0961997338
Mail: vietcert.kinhdoanh60@gmail.com
-------
B.H.

Thứ Tư, 16 tháng 1, 2019

Việt Nam hoàn toàn làm chủ công nghệ sản xuất các loại vật liệu xây dựng chính

Báo cáo tại Hội nghị Vật liệu xây dựng toàn quốc do Bộ Xây Dựng tổ chức sáng 12/12, đại diện cơ quan quản lý Nhà nước, cơ quan nghiên cứu và các doanh nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng (VLXD) đều khẳng định Việt Nam đã hoàn toàn làm chủ công nghệ sản xuất các loại vật liệu xây dựng chính, trong đó xi măng, kính xây dựng và gạch ceramic đứng trong nhóm các nước xuất khẩu hàng đầu thế giới.
Theo báo cáo của Bộ Xây dựng, giai đoạn từ năm 2010 đến nay, ngành sản xuất VLXD Việt Nam đã phát triển không ngừng và đạt được những thành tựu to lớn trong việc phát triển các cơ sở sản xuất VLXD, với công nghệ tiên tiến, hiện đại ngang tầm với khu vực và các nước phát triển trên thế giới; từng bước nâng cao sản lượng và chất lượng sản phẩm VLXD.

Tất cả các chủng loại sản phẩm VLXD chủ yếu cơ bản đã thoả mãn được nhu cầu tiêu dùng của xã hội, đáp ứng yêu cầu xây dựng trong nước. Một số sản phẩm VLXD đã tham gia vào thị trường xuất khẩu (xi măng, gạch ốp lát, kính xây dựng, đá ốp lát, vôi…).
Công nghệ sản xuất VLXD ở Việt Nam thời gian qua đã có những thay đổi rõ rệt, các công nghệ lạc hậu đã và đang được thay thế bằng công nghệ tiên tiến hiện đại trên hầu hết các lĩnh vực, làm thay đổi sâu sắc bộ mặt của ngành công nghiệp VLXD, đưa ngành công nghiệp VLXD từng bước hoà nhập vào trình độ chung của khu vực và thế giới. 
Từ năm 2010 Việt Nam đã sản xuất đủ xi măng cho nhu cầu nội địa bằng nguồn clinker sản xuất trong nước. Những năm tiếp theo, để phát huy hiệu quả đầu tư, đồng thời giảm áp lực tiêu thụ trong nước, Việt Nam đã xuất khẩu clinker và xi măng ra nước ngoài tạo nguồn thu ngoại tệ để đầu tư mua sắm vật tư, thiết bị.
Hiện nay, theo số liệu thống kê thì Việt Nam đứng thứ 4 trong 10 nước sản xuất xi măng và clinker nhiều nhất thế giới. Các sản phẩm xi măng của Việt Nam tương đối đa dạng. Các doanh nghiệp sản xuất xi măng ở nước ta đã sản xuất được hầu hết các chủng loại xi măng poóc lăng phục vụ cho nhu cầu xây dựng trong nước.
Về sản lượng, đến năm 2016, cả nước có 80 dây chuyền sản xuất xi măng với tổng công suất thiết kế là 88,46 triệu tấn xi măng/năm, sản lượng sản xuất đạt trên 75,2 triệu tấn (tăng 49,8% so với năm 2010). Dự kiến đến hết năm 2017 cả nước sẽ có 83 dây chuyền sản xuất xi măng với tổng công suất thiết kế 98,56 triệu tấn/năm.
Sản lượng sản xuất gạch ốp lát các loại (gạch ceramic, granite, cotto) không ngừng tăng nhanh. Năm 2010 sản lượng sản xuất là 378 triệu m2, thì đến năm 2016, sản lượng sản xuất đã tăng lên 540 triệu m2 (tăng 50% so với năm 2010), đáp ứng cung cấp đủ nhu cầu trong nước và xuất khẩu khoảng 20-25% tổng công suất. Công nghệ và thiết bị, được đầu tư đồng bộ, tiên tiến từ các nước phát triển với quy mô mỗi nhà máy lên tới hàng chục triệu m2, module công suất mỗi dây chuyền từ 2 đến 3 triệu m2/năm.
Đối với đá ốp lát tự nhiên đã áp dụng công nghệ khai thác hiện đại bằng cưa đĩa, cắt dây kim cương, hạn chế tối đa việc nổ mìn ảnh hưởng tới môi trường và an toàn lao động. Trên cả nước đã có khoảng 130 cơ sở cưa xẻ đá ốp lát và 25 cơ sở chế biến bột đá carbonat canxi siêu mịn được đầu tư với năng lực chế biến khoảng 16 triệu m2/năm. Công suất hoạt động thực tế đạt khoảng 60-70% công suất thiết kế. 
Đến hết năm 2016, tổng công suất thiết kế các nhà máy sản xuất sứ vệ sinh đạt 14,7 triệu sản phẩm/năm (tăng 40% so với năm 2010), đáp ứng cung cấp đủ nhu cầu trong nước và xuất khẩu. Công nghệ sản xuất hiện đại, tiên tiến, mức độ tự động hóa cao, tiêu hao ít nhiên liệu, chủng loại sản phẩm đạt chất lượng cao, đa dạng về hình dáng, kích thước, mẫu mã, màu sắc và đặc tính sử dụng; nhiều loại sản phẩm đạt trình độ công nghệ của các nước tiến tiến hàng đầu trong lĩnh vực này. Năng lực sản xuất trong nước hiện có đáp ứng nhu cầu tiêu thụ ở trong nước và xuất khẩu đạt khoảng 30-35% công suất thiết kế.
Về kính xây dựng, tổng công suất sản xuất kính phẳng hàng năm của các nhà máy đang sản xuất trong nước ước đạt 4.080 tấn/ngày tương đương 285 triệu m2 quy tiêu chuẩn (QTC)/năm, trong đó kính nổi là 3.550 tấn/ngày tương đương 248 triệu m2 QTC (có 7 nhà máy) và kính cán là 530 tấn/ngày tương đương 37 triệu m2 QTC. Ngoài các nhà máy đang sản xuất, hiện tại có 5 dự án kính nổi đang đầu tư với tổng công suất 2.600 tấn/ngày tương đương 182 triệu m2 QTC/năm. Như vậy, khi 5 dự án trên đi vào sản xuất, tổng công suất sản xuất kính phẳng ở Việt Nam sẽ là 6.680 tấn/ngày tương đương 466 triệu m2 QTC/năm.
Thực hiện Chương trình phát triển vật liệu xây không nung theo Quyết định số 567/QĐ-TTg ngày 28/4/2010 của Thủ tướng Chính phủ (Chương trình 567), thời gian qua, hầu hết các địa phương đã có những chỉ đạo quyết liệt trong việc xóa bỏ các lò gạch thủ công, thủ công cải tiến và lò vòng sản xuất gạch đất sét nung cũng như khuyến khích phát triển sản xuất và tiêu thụ vật liệu xây không nung. Đặc biệt tại một số địa phương đã xóa bỏ hoàn toàn lò gạch thủ công như: Bắc Ninh, Bình Dương, TPHCM…
Các doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp tư nhân cũng đã tích cực chủ động hưởng ứng chủ trương của Chính phủ, chủ động tìm hiểu công nghệ, đầu tư sản xuất, cung cấp cho thị trường nhiều sản phẩm vật liệu xây không nung đạt chất lượng, từng bước đa dạng hóa các sản phẩm vật liệu xây không nung.
Đến hết năm 2016, tổng công suất thiết kế của 3 loại sản phẩm chính đã đạt khoảng 7 tỷ viên QTC/năm, sản xuất đạt 6,5 tỷ viên, chiếm khoảng 28%  so với tổng sản lượng vật liệu xây năm 2016 ước khoảng 24 tỷ viên.
Như vậy, chương trình đã đạt mục tiêu đề ra “Phát triển sản xuất và sử dụng vật liệu xây không nung thay thế gạch đất sét nung đạt tỷ lệ 20-25% vào năm 2015”. Tuy nhiên, tiến độ, chất lượng thực hiện chương trình chưa đáp ứng yêu cầu, số lượng và chủng loại vật liệu xây không nung chưa nhiều, chưa đa dạng, chưa được sử dụng rộng rãi…
Các ý kiến thảo luận tại hội nghị cũng cho rằng, sản xuất vật liệu xây dựng truyền thống hiện nay tại nước ta tiêu tốn nguồn nguyên liệu, năng lượng lớn và góp phần gây ô nhiễm môi trường. Do đó, việc nghiên cứu cải tiến công nghệ sản xuất và phát triển các loại vật liệu xây dựng giảm tiêu hao nguyên liệu, năng lượng, thân thiện môi trường là điều cấp thiết hiện nay.
Trong thời gian tới, Bộ Xây dựng sẽ tăng cường chỉ đạo các đơn vị liên quan tiếp tục nghiên cứu, đổi mới công nghệ như sản xuất xi măng tiết kiệm năng lượng; sản xuất kính tiết kiệm năng lượng sử dụng trong tòa nhà; các chất phủ chống bám bẩn trên các vách dựng kính, vật liệu ốp lát trên các công trình; cải tiến công nghệ giảm tiêu hao năng lượng trong sản xuất kính và gạch gốm ốp lát và sứ vệ sinh; sản xuất các loại vật liệu mới, vật liệu không nung thay thế gạch đất sét nung trong xây dựng tiết kiệm tài nguyên, thân thiện với môi trường; sử dụng tối đa các loại chất thải của các ngành công nghiệp để sản xuất vật liệu xây dựng
Trung tâm giám định và chứng nhận hợp chuẩn hợp quy Vietcert

Đà Nẵng: 28 An xuân, Thanh Khê, Đà Nẵng
Hà Nội: 114 Trung Kính, Cầu Giấy, Hà Nội
Hồ Chí Minh: 102 Nguyễn Xí, Bình Thạnh, Hồ Chí Minh
Đăk Lăk : 12 Trần Nhật Duật, thành phố Buôn Mê Thuột
Cần Thơ: Khu Chung cư Hưng Phú 1, Đường A1, Cái Răng, Cần Thơ
Hải Phòng: Tòa nhà Thành Đạt, Thành phố Hải Phòng
Mr. Huyền: 0903 516 929 - 0961997338
Mail: vietcert.kinhdoanh60@gmail.com

Thứ Sáu, 11 tháng 1, 2019

Những điều đơn giản có thể bạn 

chưa biết về bê tông

Bê tông - Vật liệu xây dựng rất phổ biến trong cuộc sống hiện đại nhưng bạn đã thực sự hiểu hết về nó? Hãy cùng chúng tôi tìm hiểu về loại vật liệu này với nhiều điều mới mẻ mà có thể bạn chưa biết.
1. Nguồn gốc của bê tông
Bê tông là vật liệu nhân tạo được hình thành từ nhiều nguyên liệu khác nhau như: xi măng, cát, đá, nước, vôi... Mặc dù vậy, nó chỉ đúng với dạng bê tông hiện đại, trong khi đó, bê tông lại có nguồn gốc từ rất lâu. Theo các nghiên cứu khảo cổ khoảng 2 ngàn năm trước, người dân La Mã đã biết sửa dụng tro núi lửa trộn với nước như một loại "bê tông đặc biệt" trong việc tạo nên những công trình thế kỷ sau này, điển hình nhất là đấu trường Colosseum tại thủ đô Rome. Đây chính là dạng "bê tông" đầu tiên của nhân loại.
Vậy tại sao tro núi lửa lại có thể làm nên thứ vật liệu thần kỳ như vậy? Các nhà khảo cổ đã phát hiện ra puzzolan (từ núi lửa) là hỗn hợp của Silic dioxide (SiO2), có nhiều trong cát, và vôi sống (CaO) - 2 trong 3 thành phần chính của bê tông trước khi xi măng xuất hiện. Ngay lập tức, đội ngũ khảo cổ đã nhờ đến sự trợ giúp của các chuyên gia địa chất của đại học Stanford để nghiên cứu khu vực miệng núi lửa Campi Flegrei.
Đội ngũ nghiên cứu sau khi thu thập đủ dữ liệu đã phát hiện ra khu vực miệng núi lửa có rất nhiều đá vôi (CaCO3), dưới nhiệt cực cao của khu vực này thì một phản ứng hóa học cơ bản đã xảy ra:
CaCO3 → CaO + CO2
Khi núi lửa phun trào, lớp CaO tích tụ lâu ngày sẽ bắn lên không trung và bay xa. Không ít mảng lớn sẽ bay về phía bờ biển cách đó không xa và lẫn với cát biển, những người thợ thủ công tại Pozzuoli đã phát hiện ra chúng và họ tình cờ nhận thấy những mảng bị ẩm ướt có thể trở nên cực kỳ rắn chắc khi chúng bị phơi khô dưới ánh nắng. Bê tông có nguồn gốc như vậy đấy.
2. Các loại bê tông hiện đại điển hình
Sau khi đế chế La Mã sụp đổ, những tưởng những gì pozzolana làm được sẽ biến mất mãi mãi thì năm 1824, Joseph Aspdin chính thức sáng tạo ra xi măng Portland - đặt nền móng cho bê tông hiện đại. Với việc nung đá vôi và đất sét giàu silic dưới điều kiện 600 độ C, Joseph Aspdin đã tạo canxi silicat (Ca2SiO4) giống như cách núi lửa Campi Flegrei đã từng làm.
Với sự xuất hiện của xi măng portland, ngành xây dựng thực sự đã thay đổi sau những năm 40 của thế kỷ 19. Thậm chí, các chuyên gia đã tạo ra nhiều loại bê tông khác nhau để phù hợp với những mục đích sử dụng cụ thể. Dưới đây là những loại bê tông hiện đại điển hình nhất:
• Bê tông cốt thép
Bê tông cốt thép là một loại vật liệu xây dựng kết hợp của hai loại vật liệu là bê tông và thép. Sự kết hợp này đem lại nhiều ưu điểm nổi bật cho bê tông cốt thép. Thép và bê tông có hệ số giãn nở nhiệt gần giống nhau, do đó tránh được sự ảnh hưởng của sự tăng giảm nhiệt độ môi trường.
Bê tông bảo vệ cốt thép khỏi sự xâm thực của môi trường, thép định vị bê tông nhằm tránh nứt vỡ. Bê tông có đặc tính chịu kéo và uốn kém, khi có cốt thép nhược điểm này sẽ được khắc phục do thép là vật liệu chịu kéo khá tốt. Trong hầu hết các công trình hiện nay, bê tông cốt thép đóng vai trò là kết cấu chịu lực chính cho cả công trình.
• Bê tông tiêu thấm
Bê tông tiêu thấm nước với những ưu điểm vượt trội như làm giảm thiểu ô nhiễm nước mưa, bảo vệ nguồn nước ngầm là một hướng mới về công nghệ bê tông thân thiện với môi trường. Công nghệ bê tông mới này đang được các nước trên thế giới chú trọng phát triển, đặc biệt là với những nước mà vấn đề ô nhiễm nguồn nước và ô nhiễm môi trường mang tới những hậu quả nghiêm trọng.
Khả năng cho nước thấm qua bê tông mà vẫn đảm bảo về cường độ và tuổi thọ giúp cho loại bê tông này vượt trội hơn các loại bê tông truyền thống. Trên thế giới, đã có một số nước áp dụng bê tông thấm nước vào trong các công trình xây dựng như đường giao thông, vỉa hè, bãi đỗ xe… và đã đạt được hiệu quả cao về mặt môi trường, kinh tế, kết cấu, thẩm mỹ.
• Bê tông sinh học
Bê tông dù thuộc loại vật liệu "nồi đồng cối đá" nhưng nó vẫn không thể chiến thắng được thời gian khi những công trình làm từ bê tông sẽ xuất hiện những vết nứt không thể chữa lành. Giáo sư sinh vật Jonkers đã đề xuất loại một loại bê tông có thể tự "hàn gắn" các vết nứt chỉ nhờ vào vi khuẩn và nước mưa.
Cụ thể, những loại vi khuẩn Bacillus hoặc Sporosarcina sẽ được cho ngủ đông và đóng gói trong những hạt rất nhỏ, tương tự như bột trắng, mịn và bổ sung vào kết cấu bê tông trong quá trình xây dựng. Chúng sẽ được đóng gói cùng với thức ăn là canxi lactat.
Khi các vết nứt xuất hiện trên kết cấu công trình, những viên siêu nhỏ sẽ vỡ ra, nước xâm nhập vào và vi khuẩn bị đánh thức. Khi đó chúng bắt đầu "ăn thức ăn" đã dự trữ sẵn. Kết quả là chúng sẽ thải ra hợp chất đá vôi cứng, lấp vào các vết nứt và ngăn chặn nước tiếp cận phá hủy cấu trúc công trình (nước có thể khiến bộ khung sắt thép bị gỉ sét).
Theo giáo sư Jonkers, phần lớn các công trình có tuổi thọ vào khoảng 20 - 30 năm thì chủng vi khuẩn này có thể ngủ yên trong 200 năm mà không cần thức ăn. Do đó, cách làm này có thể kéo dài tuổi thọ của công trình xây dựng thêm nhiều thập kỷ so với bình thường.
3. Bê tông - Lựa chọn số 1 cho những công trình
Trong thời gian gần đây, con người đã bắt đầu tìm kiếm những vật liệu để thay thế bê tông nhưng trước khi bất kỳ ý tưởng nào trở thành hiện thực thì bê tông vẫn là lựa chọn số một cho những công trình xây dựng. Theo thống kê mới nhất thì bê tông là vật liệu nhân tạo được sử dụng nhiều nhất trên thế giới, thậm chí sản lượng tiêu thụ của nó còn lớn hơn sản lượng tiêu thụ của nhựa, thép và nhôm cộng lại.
Mặt trái của bê tông là khi hết tuổi thọ, các công trình xây dựng sẽ thải ra một lượng chất thải rắn vô cùng lớn. Nhưng hiện nay, với sự phát triển của khoa học, nhiều công nghệ tái tạo bê tông đang được nghiên cứu áp dụng.
Trung tâm giám định và chứng nhận hợp chuẩn hợp quy Vietcert

Đà Nẵng: 28 An xuân, Thanh Khê, Đà Nẵng
Hà Nội: 114 Trung Kính, Cầu Giấy, Hà Nội
Hồ Chí Minh: 102 Nguyễn Xí, Bình Thạnh, Hồ Chí Minh
Đăk Lăk : 12 Trần Nhật Duật, thành phố Buôn Mê Thuột
Cần Thơ: Khu Chung cư Hưng Phú 1, Đường A1, Cái Răng, Cần Thơ
Hải Phòng: Tòa nhà Thành Đạt, Thành phố Hải Phòng
Mr. Huyền: 0903 516 929 - 0961997338
Mail: vietcert.kinhdoanh60@gmail.com
-------
B.H.

Thứ Ba, 8 tháng 1, 2019

Tìm đầu ra cho vật liệu xây dựng không nung

Việc tìm đầu ra cho vật liệu xây dựng không nung cũng như thay đổi thói quen sử dụng của người tiêu dùng không hề đơn giản.

Theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Chương trình phát triển vật liệu xây dựng không nung, đến năm 2020 vật liệu xây không nung sẽ thay thế gạch nung từ 30-40%, tiến tới xóa bỏ hoàn toàn các cơ sở sản xuất gạch nung bằng lò thủ công. Gạch không nung được đánh giá có độ chống thấm cao, ít đóng rong rêu và đặc biệt là giá thành giảm tới 20% so với sản phẩm gạch đất nung truyền thống. Tuy nhiên, việc tìm đầu ra cho loại sản phẩm này, cũng như thay đổi thói quen sử dụng của người tiêu dùng là không hề đơn giản.
Không chỉ các công trình xây dựng dân sinh, ngay cả các công trình xây dựng với quy mô lớn hơn, việc sử dụng gạch xây dựng không nung cũng chưa phải là sự lựa chọn của những nhà thầu, cho dù hiệu quả sử dụng tốt, giá thành lại thấp hơn tới 20% so với gạch nung truyền thống.
Báo cáo của ngành xây dựng cho thấy, chỉ tính riêng vật liệu gạch trong xây dựng, Việt Nam trung bình tiêu thụ mỗi năm hơn 20 tỷ viên cho các công trình xây dựng. Mức tiêu thụ này dự kiến sẽ lên đến 42 tỷ viên vào năm 2020. Với mức tiêu thụ như vậy, nếu không chuyển hoàn toàn sang gạch không nung sẽ tiêu tốn một lượng nhiên liệu khổng lồ. Cùng với đó là môi trường tiếp tục bị ô nhiễm nặng nề.
Trung tâm giám định và chứng nhận hợp chuẩn hợp quy Vietcert

Đà Nẵng: 28 An xuân, Thanh Khê, Đà Nẵng
Hà Nội: 114 Trung Kính, Cầu Giấy, Hà Nội
Hồ Chí Minh: 102 Nguyễn Xí, Bình Thạnh, Hồ Chí Minh
Đăk Lăk : 12 Trần Nhật Duật, thành phố Buôn Mê Thuột
Cần Thơ: Khu Chung cư Hưng Phú 1, Đường A1, Cái Răng, Cần Thơ
Hải Phòng: Tòa nhà Thành Đạt, Thành phố Hải Phòng
Mr. Huyền: 0903 516 929 - 0961997338
Mail: vietcert.kinhdoanh60@gmail.com
-------
B.H.

Thứ Hai, 31 tháng 12, 2018

Nestlé Việt Nam xây trường học bằng gạch từ sản xuất cà phê

Ngày 20/9, Công ty Nestlé Việt Nam đã tổ chức trao tặng 10.000 viên gạch không nung làm từ cát thải lò hơi trong quá trình sản xuất cà phê hòa tan tại nhà máy Nestlé Trị An, khu công nghiệp Amata, để xây dựng nhà ăn cho hơn 1.000 em học sinh trường tiểu học Nguyễn Huệ, phường Tân An, Biên Hòa, Đồng Nai.


Đây là một hoạt động hưởng ứng chiến dịch “Làm cho Thế giới sạch hơn năm 2018”, do Tổng cục Môi trường, Bộ Tài nguyên và Môi trường, phát động, cũng như góp phần giáo dục, nâng cao nhận thức bảo vệ môi trường cho trẻ em tuổi đến trường.
Theo đó, các nguyên liệu thải ra trong quá trình sản xuất cà phê bao gồm bã cà phê và cát thải lò hơi được tận dụng để không tạo chất thải ra môi trường, vừa để làm nguyên liệu tái chế hữu ích. Các nguyên liệu này được sản xuất theo chu trình tuần hoàn bao gồm: bã cà phê được tách ra sau khi chế biến được sử dụng làm chất đốt nhiên liệu sinh khối (biomas) cho lò hơi, làm giảm đồng thời tiêu thụ khí đốt CNG và giảm thải khí CO2 gây ô nhiễm môi trường.
Tiếp đến cát thải lấy từ lò hơi sẽ được cung cấp cho nhà sản xuất gạch tại địa phương, làm ra các viên gạch không nung phục vụ cho các công trình xây dựng.
Nestlé bắt đầu thu gom cát thải lò hơi, hình thành sau quá trình sản xuất cà phê từ năm 2014. Tính đến hết quý 3/2018 đã có hơn 2 triệu tấn cát thải, thay vì bị thải ra môi trường, đã được thu gom và dùng để sản xuất gần 5 triệu viên gạch không nung đạt tiêu chuẩn quốc gia trong ngành xây dựng, và được ứng dụng rộng rãi ở các công trình dân dụng lẫn công nghiệp.
Hiện cả 6 nhà máy do Tập đoàn Nestlé Thụy Sỹ đầu tư và đang vận hành tại Việt Nam đều được thiết kế và xây dựng, đáp ứng những tiêu chuẩn của tập đoàn, đồng thời tuân thủ pháp luật Việt Nam về bảo vệ môi trường, phòng ngừa ô nhiễm và áp dụng những sáng kiến nhằm giảm phát thải ra môi trường, tiết kiệm nước.
Trung tâm giám định và chứng nhận hợp chuẩn hợp quy Vietcert

Đà Nẵng: 28 An xuân, Thanh Khê, Đà Nẵng
Hà Nội: 114 Trung Kính, Cầu Giấy, Hà Nội
Hồ Chí Minh: 102 Nguyễn Xí, Bình Thạnh, Hồ Chí Minh
Đăk Lăk : 12 Trần Nhật Duật, thành phố Buôn Mê Thuột
Cần Thơ: Khu Chung cư Hưng Phú 1, Đường A1, Cái Răng, Cần Thơ
Hải Phòng: Tòa nhà Thành Đạt, Thành phố Hải Phòng
Mr. Huyền: 0903 516 929 - 0961997338
Mail: vietcert.kinhdoanh60@gmail.com
-------
B.H.

Thứ Sáu, 28 tháng 12, 2018

Sản xuất và tiêu thụ gạch không nung đang có những chuyển biến tích cực

Là vật liệu xây dựng thân thiện với môi trường, hơn nữa, thời gian gần đây, công tác quản lý hoạt động sản xuất, kinh doanh vật liệu xây dựng trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa ngày càng đi vào nền nếp, thị hiếu của người tiêu dùng về gạch không nung cũng dần thay đổi, do đó tình hình sản xuất và tiêu thụ gạch không nung trên địa bàn tỉnh đang có những chuyển biến tích cực. 


Sản xuất gạch không nung tại Công ty TNHH Xuân Trường (Yên Định).
Hiện nay, toàn tỉnh có 39 doanh nghiệp sản xuất gạch không nung, trong đó, có hàng chục doanh nghiệp đầu tư dây chuyền sản xuất hiện đại, quy mô sản xuất lớn, như: Tổng Công ty Hà Thanh (Vĩnh Lộc) với công suất thiết kế 200 triệu viên/năm; Công ty TNHH MTV Tân Thành 9 (TP Thanh Hóa) công suất thiết kế 70 triệu viên/năm; Công ty TNHH Quân Phong (TP Thanh Hóa) với công suất 40 triệu viên/năm; Công ty TNHH Xuân Trường (Yên Định); Công ty TNHH Hoàng Tuấn (Hoằng Hóa) với công suất 15 triệu viên/năm...
Vốn là đơn vị kinh doanh trong lĩnh vực sản xuất đá ốp lát, năm 2015, Công ty TNHH Xuân Trường (Yên Định) quyết định xây dựng nhà máy gạch không nung để tận dụng chính nguồn nguyên liệu phế phẩm từ hoạt động khai thác, sản xuất đá xẻ của đơn vị.
Ông Trịnh Xuân Trường, phó giám đốc công ty, cho biết, dự án có công suất 20 triệu viên/năm, được đầu tư trên khu đất rộng khoảng 27.000m2 gồm khuôn viên làm sân phơi gạch không nung, xưởng sản xuất, nhà kho chứa sản phẩm... Toàn bộ hệ thống máy móc được đơn vị đầu tư mới và đồng bộ, như máy xay đá 1x2, máy xẻ đá ốp lát, máy đùn gạch... Chất thải của dự án chủ yếu là bột đá lắng lọc tại các hố chứa. Để bảo đảm môi trường, định kỳ từ 7 - 10 ngày, công ty thực hiện nạo vét, vận chuyển đến nơi tập kết theo quy định. Sau một thời gian, bột đá khô ráo sẽ được tận dụng trộn với đá 1x2 và đất nguyên liệu tạo nên sản phẩm đá bây cung cấp cho thị trường thi công các công trình giao thông, san lấp mặt bằng...
Ông Trường cũng cho biết thêm, bước sang năm 2018, tình hình tiêu thụ gạch không nung của đơn vị tăng trưởng khoảng 20%. Ngoài đối tượng các công trình được đầu tư bằng nguồn vốn ngân sách bắt buộc phải sử dụng gạch không nung, nhiều công trình của các chủ đầu tư tư nhân, hộ gia đình cũng quan tâm và sử dụng gạch không nung nhiều hơn. Sang năm 2019, đơn vị sẽ nghiên cứu đầu tư thêm 1 dây chuyền sản xuất mới để đáp ứng nhu cầu về sản lượng cho các công trình xây dựng.
Với Tổng Công ty Hà Thanh, hiện nay đơn vị có hai nhà máy sản xuất gạch không nung, một nhà máy tại huyện Vĩnh Lộc và một nhà máy tại xã Quảng Thịnh (TP Thanh Hóa), với tổng công suất thiết kế 200 triệu viên/năm. Do đầu tư dây chuyền liên doanh Việt - Nhật đồng bộ và hiện đại, sản phẩm của công ty luôn được khách hàng đánh giá cao về chất lượng. Đại diện Tổng Công ty Hà Thanh, cho biết, dự báo trong tương lai, gạch không nung sẽ thay thế gạch nung truyền thống, do đó nhu cầu của thị trường sẽ tăng cao. Đó là cơ sở để đơn vị không ngừng nghiên cứu, đầu tư công nghệ sản xuất để đáp ứng tốt hơn thị hiếu của khách hàng.

Theo thống kê của Phòng Quản lý Vật liệu, Sở Xây dựng, năm 2016, tổng công suất thiết kế của các doanh nghiệp sản xuất gạch không nung mới đạt 600 triệu viên; năm 2018, các doanh nghiệp đã nâng công suất lên gần 924 triệu viên. Tình hình tiêu thụ gạch không nung có nhiều tín hiệu khởi sắc, tăng trưởng bình quân đạt 10 - 15%/năm. Gạch không nung sử dụng chất thải rắn, tận dụng được phế thải công nghiệp của các mỏ đá, xi măng... làm nguyên liệu sản xuất nên không gây lãng phí nguồn tài nguyên khoáng sản. Hơn nữa, công nghệ sản xuất không dùng chất đốt nên không gây ô nhiễm môi trường. Qua phối trộn nguyên liệu với tỷ lệ thích hợp, sản xuất theo tiêu chuẩn, dây chuyền công nghệ cao sẽ tạo ra sản phẩm có cường độ chịu nén, độ cứng và độ chống xuyên nước cao, bảo đảm tốt các tiêu chuẩn xây dựng.
Tuy nhiên, cũng theo đánh giá của Sở Xây dựng, hiện nay, các cơ sở sản xuất gạch không nung tập trung chủ yếu tại các huyện miền xuôi, trung tâm các khu đô thị dẫn đến mất cân đối cung cầu tại khu vực miền núi. Hiện, giá thành tại chân công trình ở các huyện miền núi cao hơn nhiều so với miền xuôi. Bên cạnh đó, vẫn còn bộ phận không nhỏ người tiêu dùng vẫn chưa hiểu hết tính năng, ưu điểm của vật liệu xây không nung. Cùng với đó, một số cơ sở sản xuất chưa đầu tư xứng đáng cho công nghệ, không bảo đảm đúng quy trình sản xuất làm ảnh hưởng đến “uy tín” của vật liệu này.
Hiện nay, Sở Xây dựng đã quy hoạch và đang kêu gọi các doanh nghiệp đầu tư dự án sản xuất gạch không nung công suất từ 10 - 20 triệu viên/năm tại 5 huyện chưa có nhà máy là: Nông Cống, Thiệu Hóa, Bá Thước, Quan Hóa, Quan Sơn. Khuyến khích các đơn vị nâng cấp, cải tiến công nghệ, mở rộng sản xuất với các nhà máy hiện có. Kêu gọi đầu tư các nhà máy sản xuất gạch bê tông nhẹ (gạch chưng áp) tại TP Thanh Hóa, huyện Tĩnh Gia, mỗi cơ sở một nhà máy với công suất khoảng 70 triệu viên/năm. 
 Công nghệ nào cho gạch không nung?
Từ năm 2010, nhà nước đã có chủ trương khuyến khích phát triển gạch xi măng cốt liệu (gạch bê tông hay gạch không nung). Kể từ đó, nhiều văn bản, quy định đã ra đời, nhưng điểm mấu chốt là kiểm soát chất lượng và hạn chế gạch đỏ đã chưa được chú trọng. 
Việt Nam đã làm chủ công nghệ
Công nghệ sản xuất gạch không nung xi măng cốt liệu theo nguyên lý ép tĩnh hai chiều, đơn động cho ra các sản phẩm gạch ống chất lượng cao, tỷ trọng thấp đã được một số đơn vị khoa học công nghệ trong nước hoàn toàn làm chủ. Một số dây chuyền thiết bị đã tham gia sản xuất và đưa sản phẩm ra thị trường 2 - 3 năm nay và theo các chuyên gia, hoàn toàn chứng minh được độ ổn định, tính bền bỉ của cả hệ thống sản xuất và chất lượng sản phẩm. 
 Sản phẩm viên gạch ống không nung xi măng cốt liệu với công nghệ ép tĩnh đã chinh phục lòng tin của nhiều nhà thầu xây dựng Long An, TP HCM và Bình dương... Thậm chí dây chuyền thiết bị và cả sản phẩm gạch đều đã được công nhận là sản phẩm khoa học công nghệ của Việt nam. Nhưng sau khi được chuyên gia công nhận, thị trường công nhận, nhà nước công nhận… công nghệ sản xuất này dường như vẫn cô đơn lẻ loi trong cộng đồng ngành xây dựng. Doanh nghiệp sau khi bỏ công sức ra đầu tư, nghiên cứu, thành công, đăng ký với nhà nước… sau rồi thì để đó; và doanh nghiệp lại phải quay ra loay hoay bươn trải để tồn tại, mong chờ ngày nào đó chính sách thuận lợi hơn chăng?
Bất cập trong chính sách và thực thi
Trong khi Chính phủ luôn ban hành những chính sách dường như hỗ trợ rất tốt cho phát triển gạch không nung như Thông tư 13/2007/TT-BXD, Thành lập Quỹ phát triển khoa học công nghệ, Dự án phát triển gạch không nung do UNDP tài trợ...  Gạch ống không nung xi măng cốt liệu, công nghệ ép tĩnh chất lượng cao vẫn chưa được đánh giá đúng, chưa được thị trường đón nhận… Vậy thực trạng này là do đâu?
Trước hết có thể nói là do các nhà thầu xem thường pháp luật. Họ đã bỏ qua Thông tư chỉ đạo sử dụng gạch không nung trong công trình cao tầng và vốn ngân sách mà xây dựng. Nhưng có thể vì lợi nhuận mà các nhà thầu, chủ đầu tư chỉ quan tâm đến giá rẻ, không quan tâm đến chất lượng. 
Tất nhiên vừa qua dư luận có một số sản phẩm gạch không nung chất lượng chưa đảm bảo do các cơ sở sản xuất chưa đầu tư tương xứng, chưa kiểm soát được công nghệ, lại cố gắng giảm giá để cạnh tranh nên đã cho ra thị trường các sản phẩm không đảm bảo, gây dư luận không tốt. Nhưng nếu các nhà thầu biết lựa chọn các sản phẩm chất lượng, giá cả phù hợp, thị trường vẫn có nhiều sản phẩm đáp ứng tốt, hoàn toàn có thể an tâm đưa vào sử dụng trong các công trình dân dụng và công nghiệp.
Gạch rung ép công nghệ Trung Quốc được quảng cáo mạnh mẽ với năng suất cao giá thành gạch bán thấp và đặc biệt được hỗ trợ thuế nhập khẩu 0%. Điều này tạo nên một làn sóng đầu tư hào hứng. Nhưng sau một thời gian, chất lượng viên gạch ảnh hưởng đến công trình là nguyên nhân của lún móng, nứt tường… nên hiện nay hàng loạt nhà đầu tư tháo chạy khỏi thị trường, tạo nên khoảng trống đáng kể về sản lượng, về giá bán, và gạch đất nung lại được dịp lên ngôi...
Kiến nghị từ thực tế phát triển
1. Để phát triển bền vững ngành vật liệu xây không nung, để không tốn chi phí cưỡng chế, giám sát, giải quyết khiếu nại của việc cấm sản xuất, sử dụng gạch đất sét nung; nhà nước nên đánh thuế môi trường lên viên gạch đất sét nung với mức thuế hợp lý. Gạch đất sét nung vừa tiêu tốn đất đai tài nguyên không tái tạo, vừa phát thải khí CO2. Việc này vừa hạn chế sản xuất loại sản phẩm này, vừa thu ngân sách về cho nhà nước.
2. Để quản lý chất lượng gạch không nung chặt chẽ, cần thêm tiêu chí tỉ khối của gạch trong tiêu chuẩn TCVN 6477:2016, nhằm giảm áp lực lên hệ móng, giúp an toàn, bền vững chất lượng cho các công trình và giảm chi phí móng và chống hiện tượng nứt tường, thể hiện quan điểm khuyến khích sản xuất vật liệu không nung có tỷ trọng thấp. 
3. Cần có phương án tháo gỡ khó khăn cho việc các công trình vốn ngân sách được thiết kế dự toán bị quy định chặt chẽ về kích thước, chủng loại gạch xây tường như dùng gạch bê tông 4 lỗ 8x8x18, Mac 75... Điều này làm cho các loại gạch nhẹ khác như gạch ống 8 lổ với nhiều ưu điểm không được tham gia vào các công trình có vốn ngân sách.
Gạch không nung sẽ ngày càng phát triển, đây là xu thế tất yếu không thể đảo ngược. Vấn đề là thời gian. Gạch không nung cần được kiểm soát chất lượng tốt, đi vào công trình, khi đó các đơn vị sản xuất đi đầu mới có hiệu quả để tồn tại và phát triển. Và lợi ích chung của đất nước về bảo vệ môi trường, tiết kiệm năng lượng sẽ được thể hiện bền vững, lâu dài trong các công trình xây dựng. 
Trung tâm giám định và chứng nhận hợp chuẩn hợp quy Vietcert

Đà Nẵng: 28 An xuân, Thanh Khê, Đà Nẵng
Hà Nội: 114 Trung Kính, Cầu Giấy, Hà Nội
Hồ Chí Minh: 102 Nguyễn Xí, Bình Thạnh, Hồ Chí Minh
Đăk Lăk : 12 Trần Nhật Duật, thành phố Buôn Mê Thuột
Cần Thơ: Khu Chung cư Hưng Phú 1, Đường A1, Cái Răng, Cần Thơ
Hải Phòng: Tòa nhà Thành Đạt, Thành phố Hải Phòng
Mr. Huyền: 0903 516 929 - 0961997338
Mail: vietcert.kinhdoanh60@gmail.com
-------
B.H.